Thiền Tập Chữa Bệnh, An Vui

  Thầy Phụng Sơn và tác phẩm mới.

(LTS: Thượng Tọa Thích Phụng Sơn vừa phát hành sách Khí Công Tâm Pháp 2, có ấn bản DVD, dày 572 trang để hướng dẫn người muốn học Thiền hay Khí Công. Thượng Tọa cũng đang hứơng dẫn các lớp Khí Công vùng Nam Cali. Độc giả múôn thỉnh sách hay tập Khí Công, nếu tại Quận Cam, xin gọi BS Trịnh Văn Chính, ĐT (714) 636-6804; bà Hạnh Nhân, ĐT (714) 539-3545  để ghi danh; vùng Long Beach gọi chùa Phật Tổ, ĐT (562) 559-5100; vùng Bonsall, Vista, Ocean Side, San Diego gọi ông Huỳnh Xuân Thu, ĐT (760) 310-4056. Sau đây là trích một bài tiểu luận của Thượng Tọa Thích Phụng Sơn về lợi ích của Thiền.)

Khi khoa học đến với thiền, các nhà nghiên cứu muốn t́m hiểu kết quả cụ thể về sự thực hành này trong phạm vi y tế và giáo dục. Trên ba mươi năm qua, bác sĩ Herbert Benson qua chương tŕnh nghiên cứu về sự thư giản thân và tâm mà ông ta gọi là The Relaxation Response đă cho biết khi thực hành chú tâm thoải mái vào hơi thở th́ tâm thần lắng dịu, huyết áp giảm xuống, nhịp thở chậm lại, tim đập chậm, các bắp thịt thư giản từ đó nhiều bệnh tật cũng bớt đi. Theo sự nghiên cứu của Viên Thân và Tùâm, The Mind and Body Institude? Th́ có đến từ 60% đến 70% các bệnh tật là do tâm hay tinh thần sinh ra.

Cuộc nghiên cứu trên cũng thấy rơ các trẻ em thực hành thiền giản dị th́ học giỏi hơn, làm việc và phối hợp với các em khác tốt đẹp hơn.

Cách thiền theo bác sĩ Benson th́ rất giản dị mà người lớn hay trẻ em điều thực hành được theo một trong ba phương pháp sau đây:

1. Ngồi thoải mái và niệm: trên ghế hay trên gối và nhắm mắt lại. Thư giản các bắp thịt từ dười chân, bắp chân, đùi, bụng, vai, cổ và đầu. Thở vào thở ra thoải mái và niệm một chữ hay một câu theo ư thích của ḿnh lúc thở ra. Nếu có ư tưởng xuất hiện xen kẻ th́ đừng quan tâm, ghi nhận và tiếp tục thiền.

2. Ngồi thở thoải mái và đếm số: Đếm 5 hay 10 số ở mỗi hơi thở ra. Ví dụ: Thở vào, thở ra và nói thầm "năm", thở vào, thở ra nói thầm "bốn", cho đến "một" và lập lại từ đầu. Thực hành từ 10 đến 15 phút là thấy thân và tâm êm dịu, thư giản. Nếu không có nhiều giờ, chỉ cần 5 phút thực hành cũng có kết quả tốt.

3. Cử động lập đi lập lại: Có thể ứng dụng thiền, hay tạo ra trạng thái thân tâm, khi đi bộ, chạy bộ, vận động, chơi nhạc, hoặc bất cứ hoạt động nào lập đi lập lại các cử động như đan len, thái cực quyền, khí công, Yoga hay tụng đọc những lời cầu nguyện.

Như thế, ba cách thực hành trên bao gồm thiền tĩnh lặng, ngồi yên, và thiền hoạt động, vận động chân tay nhịp nhàng trong chánh niệm để đưa đến trạng thái thư giản của thân và buông thư hay buông xả của

tâm. Trên phương diện thực hành cụ thể, những điều nói trên liên hệ đến các sự tập luyện của nhiều nhóm khác nhau như Thiền, KHí Công, Thái Cực Quyền và Yoga hiện nay.

 

LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT

 

Trong bài viết Buddha Lessons, bà Claudia kể lại bà Dalia Isicoff bị chứng viêm khớp dạng thứ hai, rheumatoid arthritis (dạng này ở các khớp ngón tay, cổ tay, bàn chân, cổ chân, hông, xương sống và vai nhiều khi phải uống thuốc giảm đau và chống viêm). Bà Dalia chịu cơn đau thống khổ nơi các khớp, cột sống, xương chậu và phải uống thuốc chống đau nhức. Cho đến hôm bà đi tham dự một khóa thiền tại trung tâm chữa trị phối hợp đông tây, University of Maryland’s Center for Integrative Medecine, được chỉ dạy cho phương pháp thiền được gọi là Giảm Căng Thẳng Bằng Thực Hành Chánh Niện, Mindfulness-Based Stress Reduction (MBRS), bà khám phá ra một chân lư kỳ diệu: thay v́ chống chỏi với sự đau đớn th́ chỉ nhận diện nó, tiếp xúc với nó, biết nó rơ ràng th́ cơn đau sẽ dịu lại.

Điều này đức Phật đă nói rơ là phải tiếp xúc với những cảm giác sướng, khổ hay trung tính (không sướng không khổ), cảm nhận tính chất rơ ràng của mỗi thứ. Thực hành sự chú tâm thoải mái, thấy biết rơ ràng là thực hành chánh niệm (mindfulness) th́ tâm dần dần trở nên trong sáng, linh động, bén nhạy, tỉnh thức, thấy biết rơ ràng đồng thời không bị cảm giác sướng (lạc thọ) hay khổ (khổ thọ) trói buộc. Ngoài ra, khi tiếp xúc với cảm giác không sương không khổ (trung tính, bất khổ bất lạc thọ), c̣n gọi là xả thọ, th́ tâm đi vào trạng thái vắng lặng nhanh chóng. Từ sự vắng lặng đó tâm mở rộng bao la. Trong không gian rộng lớn đó các nguồn năng lượng của sự thông minh, t́nh thương yêu trong sáng và niềm hạnh phúc bừng dậy.

Đức Phật đă nói rơ cách thực hành này cho quư Thầy trong kinh Tương Ưng Bộ như sau:

"Giống như giữa hư không,

Gió nhiều loại thổi lên,

Từ phương đông, phương tây,

Từ phương bắc, phương nam.

Gió có lạnh, có nóng

Gió có bụi, không bụi,

Có gió lớn, gió nhỏ,

Gió nhiều loại thổ lên.

Cũng vậy trong thân này,

Khởi lên nhiều cảm thọ,

Lạc thọ và khổ thọ,

Bất khổ bất lạc thọ.

Khi Tỳ Kheo nhiệt tâm,

Tỉnh giác không sanh ư,

Do vậy, bậc hiền giả,

Liễu tri tất cả thọ.

Vị ấy liễu tri thọ,

Ngay hiện tại vô lậu,

Thân hoại, bậc Pháp trú,

Đại trí, vượt ước lường."

Khi tiếpc xúc thoải mái với các cảm giác, trong đó có cơn đau nhức, th́ thấu rơ bản chất của chúng chỉ là thuần túy năng lượng, không để sự ưa ghét ràng buộc, th́ giải thoát ra mọi sự khổ đau và tâm đi vào trạng thái thỉnh thức, trong sáng, bén nhạy, rộng lớn và an lạc như lời của thiền sư Hoàng Trí trong bài thơ:

"Sương và trăng

Sao và suối

Tuyết trên rặng tùng

Và mây lững lờ trên rặng núi

Từ tăm tối chúng đều trở thành rực rỡ

Từ u ám chúng đều biến thành ánh sáng sáng lạn."

(Như Hạnh Dịch, Thiền Đạo Tu Tập)

Đó là cách mà bà Dalia Isicoff đă thực hành hàng ngày sau khi đă học thiền để làm cho các cơn đau nhức do chứng thấp khớp tạo ra dịu bớt xuống đồng thời chuyển hóa chúng và dùng cơn đau như một trợ duyên cho sự thực hành tốt hơn. Và sự thực hành Tứ Niệm Xứ này được áp dụng nhiều nơi để chữa trị rất nhiều loại bệnh tật từ thân tới tâm: Trường Đại Học Stanford có chương tŕnh hướng dẫn bệnh nhân thực hành chánh niệm để thấu suốt tánh chất của các nổi sợ hăi bất an để điều trị, Trung Tâm Nghiên Cứu Sức Khỏe, Tôn Giáo và Tâm Linh, Center for the Study of Health, Religion and Spirituality của trường đại học Indiana State University nghiên cứu về ăn trong chánh niệm giúp giảm chứng béo ph́ do ăn thấy ngon và an bớt đi cũng như giảm sự uống rượu.

Đó là Thiền với Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nơi Thực Hành.

 

ĐÔI CÁNH THIỀN MỞ RỘNG TRONG KHOA HỌC

 

Nhiều trường đai học y khoa và các trung tâm chữa trị các loại bệnh tật chú trọng đến khả năng đóng góp vào sự chữa trị bệnh tật của thiền. Nhiều chứng bịnh có gốc rễ nơi tâm mà bác sĩ Herbert Benson nói trên cho biết có từ 60% đến 70%, hay có thể nhiều hơn nữa, người đi đến pḥng mạch bác sĩ xin khám bệnh là do tâm sinh ra.

Ngày nay người ta c̣n nghiên cứu có phải các chứng bệnh béo ph́, hiếm muộn, chứng bịnh đường ruột là do tâm sinh và cách ứng dụng thiền vào việc làm cho đời sống người phụ nữ măn kinh được an lạc hơn. Tóm lại, đó là hàng trăm cuộc nghiên cứu ích lợi được đem ứng dụng vào nơi làm việc, trường học, nhà thương và các trung tâm giúp gia tăng sức khỏe tinh tần và thể chất.

Những trung tâm thực hành thiền để phát triển sức khỏe chỉ chú trọng cách thực hành thiền theo một phương pháp dễ dàng, cụ thể vào việc giúp cho bệnh nhân chóng lành bệnh và sống đời mạnh khỏe. Trung tâm khuyến khích thực hành chánh niệm để chữa trị bệnh tật Center for Mindfulness in Medecine, Health Care and Society thuộc trường đai học y khoa Massachusetts đă áp dụng cách thực hành do đức Phật dạy trên 2500 năm trước đây để chữa trị hầu như mọi thứ bệnh tật từ áp huyết cao, các chức đau nhức măn tính, trầm cảm, béo ph́ đến các phản ứng phụ do sự chữa trị ung thư.

Trên 15, 000 người đă ghi tên tham dự khóa thực hành thiền trong 8 tuần lễ dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Kabat-Zin. Rất đông người khác đă tham dự chương tŕnh tương tự tại nhiều trung tâm y khoa trên nhiều tiểu bang Hoa Kỳ với chương tŕnh tương tự.

Trong khi ngồi thiền 45 phút, các thiền sinh được hướng dẫn cách ngồi, thở, nhận biết các ư tưởng xuất hiện trong tâm, nhận biết tính chất mỗi cảm giác mà không để tâm chạy theo những ưa ghét. Nói khác đi: an trú trong chánh niệm và sống thoải mái trong hiện tại.

Bên cạnh những trung tâm đặc biệt nói trên, nhiều trường đại học y khoa tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, cả trường đại học nổi tiếng Stanford cũng có chương tŕnh hướng dẫn thiền cho sinh viên hay cho bệnh nhân.

Chúng ta nhấn mạnh đến cách thiền trong Phật Giáo v́ ngày nay một vài nơi có cách thực hành thiền rất phức tạp và phải lệ thuộc quá nhiều vào người hướng dẫn nhưng không biết kết quả ra sao v́ nhiều khi nhuốm quá nhiều màu sắc thần bí. Các nhà khoa học th́ khác hẵn. Họ chọn lựa cách thực hành căn bản do đức Phật chỉ dạy là chú tâm thoải mái vào mỗi hơi thở vào, hơi thở ra, nhận biết các ư tưởng khi chúng xuất hiện và biến đi (đừng chạy theo chúng), các cảm giác sướng hay khổ mà không bị các phản ứng ưa hay ghét làm quên lảng hiện tại. Ngoài ra, khi đi, đứng, co tay, bước chân, mặc áo quần, nói tóm lại là mọi cử động chân tay cũng nhận biết rơ ràng qua sự chú tâm thoải mái hay chánh niệm. Đó là thực hành Tứ Niệm Xứ: Chú tâm thoải mái và thấy biết rơ ràng bốn lănh vực là thân thể, cảm giác, tâm tư và đối tượng nhận thức. Và nhiều nơi, để tránh màu sắc tôn giáo, các nhà nghiên cứu hay hướng dẫn cũng không nhắc nhở ǵ đến người khai sáng lối thiền này: Đức Phật. Điều này chắc cũng làm đức Phật vui ḷng v́ đó là sự ứng dụng một đặc tính của thiền: Tính cách vô ngă của mọi thứ.

Thực hành nói trên không giới hạn trong ngồi thiền mà c̣n cả trong mọi hoạt động thường ngày. Đó là thiền hoạt động. Thực hành thiền tĩnh lặng hay thiền ngồi và thiền hoạt động đưa đến kết quả rất tốt đẹp trong việc chữa trị bệnh tật và đem lại hạnh phúc cho đời sống mỗi ngày. Đó là kết luận của các cuộc nghiên cứu của nhiều bác sĩ và chuyên viên y khoa trong đó có bác sĩ Herbert Benson, người đă làm nhiều cuộc nghiên cứu trên thân thể các thiền sư Tây Tạng tại vùng Hy Mă Lạp Sơn và mới nhất tại Pháp khi các vị thầy Tây Tạng thực hành thiền Tam Muội Hỏa: Ngồi 8 giờ đồng hồ ngoài trời buốt giá với tấm vải quấn mong manh trong nhiệt độ làm nước đóng băng.

 

 THÍCH PHỤNG SƠN

 

Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông

 

Tứ Niệm Xứ là một pháp hành thiền rất quan trọng mà xưa kia tất cả các vị Thánh Tăng đă hành theo đó mà đắc quả vô sanh (A La Hán). Dù quan trọng như vậy, nhưng sau khi Đức Phật nhập diệt, Tứ Niệm Xứ dần dần bị lăng quên. Riêng ở Việt Nam th́ chư Tổ xưa kia đều là Thiền Sư, và Thiền ở Việt Nam bắt nguồn từ Thiền tông Trung Hoa.

Ở đây tôi sẽ so sánh pháp Thiền Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông để bạn đọc thấy rằng hai pháp môn này không khác nhau là mấy.  

A. Thiền Tông

Theo Bắc tông th́ vị Thiền Tổ thứ nhứt là ngài Ma Ha Ca Diếp (Maha Kayapa). Sau ó gịng Thiền được truyền đến vị Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), đến đây gịng Thiền ở Ấn Độ được truyền sang Trung Hoa. Ở Trung Hoa Bồ Đề Đạt Ma được xem là Sơ Tổ, và gịng Thiền tiếp tục truyền đến Lục Tổ Huệ Năng, sau đó y bát không c̣n được truyền xuống nữa. Nhưng bắt đầu từ Lục Tổ trở đi th́ Thiền Tông rất hưng thịnh, và đă truyền sang các nước lân bang như Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam.

Thiền Tông có cả thảy 33 vị Tổ, nhưng được đề cao nhất là Tổ Bồ Đề Đạt Ma, chính vị Tổ này đă tạo cho Thiền Tông một sắc thái đặc biệt khi sang Trung quốc tuyên bố rằng đây chính là:

Giáo ngoại biệt truyền

Bất lập văn tự

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật.

Do từ khẩu hiệu này mà Thiền Tông (ở Trung Hoa) c̣n được gọi là Tổ Sư Thiền, tức là Thiền xuất phát từ các Tổ Sư. Đến đời Lục Tổ Huệ Năng th́ Thiền lại chia làm hai phe. Nam đốn, Bắc tiệm (Tổ Huệ Năng xiển dương đốn ngộ ở phương Nam, Ngài Thần Tú chủ trương tiệm tu ở phương Bắc). Sau một thời gian th́ chỉ c̣n lại Thiền phương Nam là thịnh hành hơn cả, nên Thiền Tông lại được gọi với một danh từ khác là Thiền Đốn Ngộ. Chính phái Thiền này được truyền thừa từ Trung Hoa sang Việt Nam do Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi, và chư Tổ sau này đều thuộc gịng Thiền này.

Chủ trương của Thiền Tông là ǵ? Vẫn là bốn câu kệ của Tổ Đạt Ma: "Chẳng lập văn tự, Truyền ngoài giáo lư, Chỉ thẳng tâm người, Thấy tánh thành Phật". Chính bài kệ này đă làm cho Thiền Tông nổi bật với tánh cách kỳ dị của nó. Người ngoài mới nh́n vào có thể lầm lẫn, tưởng Thiền là một pháp môn đặc biệt, tu theo đó mau thành Phật. Nhưng thật ra bài kệ trên nếu đem áp dụng vào thực tế th́ nó không c̣n đúng hẳn với ư nghĩa của nó nữa. Xưa kia các Thiền Sư mỗi ngày đều thượng đường nói pháp, lời lẻ câu văn của các Ngài có thể thô tục, tầm thường, không văn hoa như nhưng danh từ dùng trong Kinh điển, nhưng tất cả đều ngụ ư giảng giải giáo lư của Phật, làm sao có thể nói "chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lư" được.

Các Thiền Sư thường đánh đập, la hét, dùng đủ mọi phương tiện để cho đệ tử nhận ra ông chủ, hay tánh giác của ḿnh, "chỉ thẳng tâm người" chỉ là một cách nói mà thôi. Nếu thấy tánh thành Phật liền th́ 33 vị Tổ Thiền Tông đều đă là Phật cả rồi, nên nói đúng hơn là thấy tánh thành Tổ.

Tuy vậy nếu so sánh với các Tông phái khác th́ Thiền Tông vẫn đặc biệt hơn, với tánh cách phóng khoáng tự tại trong việc dùng phương tiện để chỉ cho người tu nhận lại tánh giác hay "bản lai diện mục". Khi nhận được tánh giác rồi, người tu phải tiếp tục tinh tấn thực hành chánh niệm (Samma-Sati), xả trừ vọng tưởng đến ngày hoàn toàn sống với tánh giác (hằng giác) th́ lúc đó gọi là chứng ngộ. Có chứng ngộ mới thoát khỏi sanh tử luân hồi, c̣n giác ngộ chỉ mới là chánh kiến (Samma Ditthi), phần đầu trong Bát Chánh Đạo (Ariya Magga).

Người mà nhân nghe nửa câu hoặc một câu ngộ đạo, hay bị một đạp, một gậy giác ngộ, th́ được gọi là "truyền tâm ấn". Những người này thường là những người lanh trí lẹ mắt, v́ thế nên Thiền Tông được xem như chỉ dành cho hàng thượng căn. Nhưng hàng thượng căn th́ bao giờ cũng ít, mà hạ căn th́ bao giờ cũng nhiều, nên lần lần theo thời gian Tâm ấn bị thất truyền. Phần khác, sau này Tông Tịnh Độ được xiển dương rất hưng thịnh, nên những ai muốn tu Thiền không biết nương vào đâu. Nếu muống nương vào nhà Sư th́ tâm ấn thất truyền, lấy ai cho ta thoại đầu, công án hay đánh đập đúng lúc cho ta giác ngộ. Thật ra các công án, thoại đầu, đánh đập, la hét chỉ là những phương tiện thiện xảo của các Thiền Sư tùy bịnh cho thuốc, rút đinh nhổ chốt, quả dưa chín một phen xúc chạm liền rớt mà thôi. Các Ngài không để lại phương thức tu tập nào cả, nếu để sẽ trái với câu "Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền". V́ các Ngài cố ư không theo một thứ lớp tu tập nào cả, nên có một số người tu theo Tiểu Thừa cho Thiền Tông là một quái thai của Phật giáo. 

Ngày nay gịng Tổ Sư Thiền gần như đă mất, trừ ra có Hoà thượng Thanh Từ đang cố gắng hoằng dương lại. Kinh băng và sách của Thầy đă được phổ biến rộng răi ngoài hải ngoại. Tuy nhiên nếu chỉ nghe Kinh băng hoặc đọc sách để mong chờ ngày giác ngộ th́ đó là một ảo tưởng. V́ Thiền là một pháp hành, không phải pháp học, tự ḿnh phải chiêm nghiệm thấy rơ được sự lưu chuyển của tâm thức mới mong thấy được tự tánh.

Kinh sách Thiền Tông ít có ghi lại những phương thức tu tập, đa số chỉ ghi lại những biến cố giác ngộ của các Thiền Sư, mang nhiều tính cách ly kỳ, hấp dẫn như các trường hợp giác ngộ khi bị đánh, hét, hoặc khi thấy hoa nở, nghe tiếng mưa rơi v.v... Khi đọc những trang sách này, người tu Thiền thường có khuynh hướng mong cầu được giác ngộ giống như vậy.

Nếu đọc Kinh sách Nguyên Thủy như trong Trưởng Lăo tăng kệ (Théragatha), ta sẽ thấy trong đó cũng có ghi lại những trường hợp mà chư Thánh Tăng trong thời đức Phật đă giác ngộ. Thí dụ trường hợp của Ngài A Nan chứng quả A la Hán trong khi đang quay ḿnh đặt lưng xuống nghỉ, Ngài Châu lợi Bàn Đà Già ngộ đạo trong khi đang quét nhà, v.v... Nhưng sự việc này ít được nói đến, v́ đó chỉ là kết quả hiển nhiên của một sự tu tập chánh niệm hoặc Minh Sát Tuệ đến mức thành tựu.

Chân lư là cái ǵ tuyệt đối, Pháp thân th́ bất khả thuyết, bất khả tư ngh́, v́ thế Thiền Tông chủ trương chỉ thẳng (cho người nhận ra) bổn tánh, không dài gịng văn tự. Càng nói lư bao nhiêu, càng đi xa Thiền bấy nhiêu. Việc đó chỉ dành cho những học giả muốn thỏa măn tài phân tách lư giải của ḿnh mà thôi.

Chúng ta thường hay học thuộc ḷng những câu kệ, chú của các Thiền Sư đắc đạo, rồi mỗi khi nói đến Thiền th́ đem ra lập lại, giảng nghĩa bàn luận, có biết đâu là ḿnh đang nhai đi nhai lại cặn bă của kẻ khác. Người nào tu người đó biết, người nào chứng người đó hay, những câu thơ câu kệ xưa kia là của riêng các Thiền Sư, không dính líu ǵ đến ta cả, không nên si mê dại dột mà nhận của người làm của ḿnh. V́ nhận lầm như thế nên đa số người học Thiền đều tưởng lầm là ḿnh phá chấp và sắp sửa thành Tổ cả rồi!

Xưa kia Tổ Đạt Ma đem Thiền vào Trung Quốc với một h́nh thái kỳ dị chỉ nhằm mục đích giải tỏa sự chấp chặt vào văn tự Kinh điển của một số người thuở đó ưa học Phật mà không chịu tu Phật. Ngày nay tŕnh độ học Phật rất kém, nên ta không thể chấp vào Kinh điển được, nhưng ngược lại chúng ta lại đi chấp chặt vào những kinh kệ của chư Tổ, nhất là Thiền đốn ngộ. V́ lư do này, nên tôi nghĩ rằng những ai muốn truyền bá Thiền, th́ tốt hơn là nên truyền bá Thiền của Ngài Thần Tú hơn là Thiền của Ngài Huệ Năng. Làm như vậy có thể có lỗi với Lục Tổ, nhưng chắc không phụ ơn đức Phật. V́ đức Phật chỉ muốn làm sao cho chúng ta thoát khỏi sanh tử luân hồi, chứ Ngài đâu có muốn chúng ta thành Tổ!

Thiền Tông đặt nặng và đề cao sự đốn ngộ quá, để rồi những người theo Thiền sau này quên đi con đường dẫn đến giác ngộ, nó chỉ là một trợ duyên cuối cùng giúp cho hành giả ngộ đạo mà thôi.

Cũng cần nhắc lại là ngộ đạo chưa phải hoàn toàn giải thoát (sanh tử). Ngộ đạo (satori) chỉ là bước đầu, đồng nghĩa với kiến tánh, hay giải ngộ. Trong Kinh Pháp Hoa có nói Khai Thị Ngộ Nhập Tri Kiến Phật. Ngộ rồi phải tu tiếp đến khi nhập mới thôi, lúc đó gọi là chứng ngộ, hay hoàn toàn giải thoát. Từ lúc ngộ đạo cho đến lúc hoàn toàn giải thoát, con đường c̣n lại vẫn c̣n cam go và khó khăn, hành giả phải khéo léo, kiên nhẫn đối phó với mọi sự cám dỗ, thu hút của sắc trần bên ngoài, và sự lừa bịp, lôi kéo của vọng tưởng bên trong. Không phải một sớm, một chiều mới cất bước lên đường mà đă tới đích rồi đâu.

Thiết nghĩ, chúng ta không nên dùng chữ Thiền Đốn Ngộ mà đúng hơn nên dùng chữ Tổ Sư Thiền. V́ chữ Thiền Đốn Ngộ hay làm cho người ta hiểu lầm là nếu tu theo Thiền này sẽ mau giác ngộ. Nhưng "tu nhất kiếp, ngộ nhất thời ", hay "tu vạn kiếp ngộ nhất thời" cũng có. Đạo Phật dạy về nhân quả, có gieo nhân giác ngộ mới mong gặt được quả giác ngộ. Khi có đầy đủ "nhân và duyên" th́ quả giác ngộ tự thành. Nếu có người nào bảo rằng không học mà biết, không tu mà thành th́ người đó không nói đạo Phật. Thí dụ trường hợp của Ngài Huyền Giác (tác giả Chứng đạo Ca) đương thời gọi Ngài là "Nhứt túc giác" (một đêm giác ngộ). Trước khi đến tham vấn Lục Tổ, Ngài đă tu hành giới hạnh trang nghiêm, chuyên tu Chỉ-Quán (Samatha-Vipassanà). Nhân duyên đă đầy đủ, đến khi gặp Lục Tổ liền được ấn chứng.

B. So sánh Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông

Thiền Tông được truyền xuống từ Chư Tổ nên gọi là Tổ Sư Thiền. C̣n Tứ Niệm Xứ được gọi là Thiền ǵ? Tứ Niệm Xứ là phương pháp hành thiền mà chính đức Phật đă áp dụng cách đây trên 2531 năm và đă dạy lại cho các đệ tử, nên được gọi là Như Lai Thiền. Một Thiền của Tổ Sư, một Thiền của Như Lai, vậy Thiền nào đúng, Thiền nào sai, Thiền nào cao hơn Thiền nào?

Cả hai đều nhằm mục đích đưa hành giả đến chỗ giác ngộ giải thoát, nên đều được coi là chánh pháp cả. C̣n Thiền nào cao hơn Thiền nào? Ai mà đặt ra câu hỏi này th́ thiệt là... không biết nói sao! V́ vấn đề không ở cao hay thấp mà ở chỗ người bệnh nào th́ cho thuốc đó mà thôi. Vậy cao hay thấp th́ không, nhưng khác nhau th́ có. Tuy thấy khác nhưng thật ra cũng không thể gọi là khác được. V́ một bên đặt nặng về lư, c̣n một bên chỉ dạy về sự. Về lư th́ Thiền Tông quả là độc nhất vô nhị, với sự đánh đập, la hét khiến người cầu đạo ngỡ ngàng, cố gắng t́m những lư thuyết sâu xa ở đó. Nhưng về sự, tức phần thực hành tu tập th́ Thiền Tông vẫn nằm gọn trong Tứ Niệm Xứ. Cổ Đức xưa có câu:

Đốn ngộ tuy đồng Phật

Đa sanh tập khí thâm

Phong đ́nh ba thượng dũng

Lư hiện niệm du xâm.

Dịch nghĩa là:

Đốn ngộ tuy đồng Phật

Nhiều đời tập khí sâu

Gió ngừng sóng vẫn đập

Lư hiện niệm c̣n xâm.  

(Trích Yếu chỉ Thiền tông, H.T Thanh Từ)

Khi đốn ngộ th́ chỗ thấy không khác chư Phật, song tập khí chất chứa từ nhiều đời, nhiều kiếp không thể một lúc mà sạch hết. Cần phải nổ lực buông xả vọng tưởng, lâu ngày mới hết, như gió đă dừng mà sóng chưa lặng, phải đợi thời gian từ từ nó mới yên. Chân lư đă thấy rơ rồi mà vọng niệm vẫn c̣n xâm lấn măi. V́ thế sau khi giải ngộ cần phải cố gắng tu hành mới được chứng ngộ.

Về lư th́ Thiền nói trăng, nói cuội, chỉ đây nói đó, nhưng về sự th́ không ngoài việc "diệt trừ vọng tưởng". Muốn diệt trừ vọng tưởng không có pháp nào khác hơn ngoài Chánh niệm (Samma-Sati) là chi thứ 7 trong Bát Chánh đạo (Ariya-Magga).

Trên phương diện hành Thiền, Chánh niệm cần được hiểu là quán niệm một cách chân chánh, chân chánh ở đây c̣n có nghĩa là khách quan. Vậy chánh niệm là quán niệm, hay rơ hơn là quán sát và ghi nhận một cách khách quan. Phải quán niệm khi nào, lúc nào? Việc thực hành quán niệm không thể nằm ngoài bốn lănh vực (bốn niệm xứ), đó là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.

Trở về Thiền Tông, ta thường nghe nói: gánh nước, bửa củi là Thiền, lặt rau, hái cỏ cũng là Thiền. Có người hỏi Thiền Sư Huệ Hải: "Tu Thiền dụng công thế nào?". Thiền Sư trả lời: "Khi đói th́ ăn, khi mệt th́ ngủ!". Người kia lại hỏi: "Ai mà chả đói th́ ăn, mệt th́ ngủ. Tất cả mọi người đều như vậy, có ǵ là khác?". Thiền Sư bảo: "Khi ăn ta biết đang ăn, khi ngủ ta biết đang ngủ. C̣n người đời th́ khi ăn chẳng chịu ăn, đ̣i trăm thứ cần dùng; khi ngủ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện!". Xem ra ở đây có khác ǵ Niệm thân của Tứ Niệm Xứ: "Khi thở vào một hơi dài, hành giả biết ḿnh đang thở vào một hơi dài...". Trong mỗi cử động của thân thể: đi, đứng, nằm, ngồi Thiền Sư đều giữ chánh niệm, không cho tâm phóng đi một cách bừa băi theo vọng tưởng, đó chính là niệm thân vậy.

Các Thiền Sư có lúc đánh đau điếng hoặc xô đệ tử què chân, đó không phải đánh thức người đệ tử trở về niệm thọ là ǵ? Thay v́ rong ruổi theo vọng tưởng.

Nhà Thiền có câu: "Không sợ niệm khởi mà chỉ sợ giác chậm" có nghĩa là không sợ vọng niệm khởi lên, mà chỉ sợ không tỉnh thức nhận liền ra nó. Đó có khác ǵ niệm Tâm  của Tứ Niệm Xứ? Xưa kia Tổ Huệ Khả không chịu niệm Tâm, phải chờ đến lúc gặp Tổ Đạt Ma bảo: "đem tâm ra ta an cho", mới chịu trở về t́m tâm.

Nhân nghe tiếng mưa rơi, nh́n thấy hoa nở.v.v... mà nhận ra bổn tánh, đó phải chăng thuộc về niệm pháp ?

Tu Thiền cần phải diệt vọng tưởng. Muốn diệt vọng tưởng phải có chánh niệm, mà chánh niệm không ngoài Tứ Niệm Xứ. Vậy Tứ Niệm Xứ là phép thực hành căn bản của Thiền.

Thế c̣n đặc tánh Giác ngộ của Thiền Tông th́ sao? Đặc tánh giác ngộ của Thiền không phải vô duyên cớ. Vào khoảng thế kỷ thứ 5, sau khi Kinh điển vừa được đem từ Ấn độ sang Trung Hoa, các học giả Phật dồn hết tâm lực vào công cuộc phiên dịch Kinh từ Phạn ra Hán văn. Sau đó mọi người đều hăng say đi t́m chân lư nơi văn tự của Kinh điển. Dần dần họ bị như thu hút vào mê hồn trận của giáo lư cao siêu Đại Thừa, để rồi quên đi những Kinh điển căn bản nhưng giản dị và thiết thực của Tiểu Thừa. Càng đi sâu vào triết lư văn tự của Kinh điển, họ càng hoang mang không biết đâu là đạo, đâu là chân lư. Đến lúc cùng đường, bí lối th́ may thay, Bồ đề Đạt Ma đă xuất hiện như một vị cứu tinh với câu: "Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật". Và từ đó Thiền Tông nổi tiếng là một pháp môn đốn ngộ. Ai nấy đều đi t́m Thiền Sư chỉ cho giác ngộ. Giác ngộ cần được thực hiện chứ không phải để được mong cầu. Chỉ có những người quên và không biết sống với thực tại, lo đi t́m chân lư ở những ǵ cao xa mới đi t́m giác ngộ.

Xưa kia Tổ Đức Sơn đi đâu cũng giảng Kim Cang, ngài Pháp Đạt tụng làu ba ngàn bộ Pháp Hoa, mà vẫn không ngộ đạo, phải chờ đến khi có người chỉ cho chỗ tầm thường nhất mới chịu nhận ra.

Người tu theo Đại thừa cũng vậy, chỉ lo tụng Kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Niết Bàn, Hoa Nghiêm, v.v.... mà không chịu đọc Kinh Pháp cú, Chuyển pháp luân, Tứ thập nhị chương, Kinh Niệm Xứ,v.v... Thiền Tông đă khéo tô điểm "giác ngộ", để người ta tưởng rằng nó chỉ nằm trong tay của các Thiền Sư, rồi đua nhau đi t́m Thiền Sư chỉ cho giác ngộ.

Hỡi những người đang đi t́m giác ngộ chân chánh, hăy dừng chân lại! Tại sao phải đi t́m giác ngộ? Tại v́ bất giác. Bất giác chánh niệm, hay là thất niệm: ăn không biết ḿnh đang ăn, mặc không biết ḿnh đang mặc, thở không biết ḿnh đang thở... Giác ngộ phải được thực hiện trong mọi giờ phút! Thiền Tông thường nói giác ngộ là nhận ra ông chủ, hay bản lai diện mục. Nhưng theo tinh thần Tứ Niệm Xứ th́ giác ngộ là nhận biết được bản chất của thực tại, vô thường, vô ngă và muốn vậy thực hành chánh niệm . Người đời thường ưa chữ giác ngộ hơn chánh niệm, v́ họ cho rằng giác ngộ là một điều rất khó, c̣n chánh niệm th́ quá dễ. "Ăn mà biết ḿnh đang ăn" th́ ai chả biết? Đó là chánh niệm đă bị tầm thường hóa rồi. Chỉ có những người không biết hoặc chưa thực hành đúng đắn mới coi thường chánh niệm mà thôi. Chánh niệm không phải là ư thức suông việc đang ăn của ḿnh đâu, mà phải thấy rơ, trực nghiệm tất cả tiến tŕnh của sự ăn, tức là từ lúc bắt đầu ăn, đang ăn, cho đến hết ăn, và tất cả những ǵ xẩy ra trong lúc ăn, và c̣n nữa, c̣n nữa... V́ vậy chánh niệm phải được thực hiện trong từng giây phút, từng sát na, và việc đó không phải dễ đâu, mà là một việc vô cùng khó khăn, đ̣i hỏi nhiều thời giờ và kiên nhẫn, nếu không th́ ta đă thành A La Hán rồi!

Tóm lại Thiền Tông và Tứ Niệm Xứ không xung khắc nhau mà ngược lại c̣n bổ khuyết cho nhau. Thiền Tông chuyên về lư (mặc dù nói "bất lập văn tự"). Người tu Thiền t́m phương pháp chắc chắn phải đi qua con đường Tứ Niệm Xứ. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ không nói lư cao siêu, nhưng xin người tu Thiền đừng xem thường nó, v́ không phải ai cũng có thể tu theo Tứ Niệm Xứ đâu, chỉ có nhưng người hiểu được "B́nh thường tâm thị đạo" mới chịu khó kiên nhẫn hành theo mà thôi.

(Trích sách "Thiền Tứ Niệm Xứ" -- http://thuvienhoasen.org/)

 

 THÍCH TRÍ SIÊU